Lạm dụng từ Hán Việt
Khiêm tốn → yếu/ kém/ ít
“Khiêm tốn” là từ HV có nghĩa tự hạ thấp mình xuống để nhường nhịn người khác, nghĩa hiện đại là có ý thức và thái độ đúng mức trong việc đánh giá bản thân, không tự mãn, tự kiêu, không tự cho mình là hơn người: Thái độ khiêm tốn. Lời lẽ khiêm tốn. Đang bị lạm dụng ở dạng đồng nhất, đồng nghĩa lâm thời với các từ yếu, kém, ít... kiểu như: Kết quả học tập rất khiêm tốn; Đồng lương khiêm tốn... là lạm dụng, không phù hợp và thiếu chính xác.
Công tác → làm việc/ công việc
![]() |
“Công tác” là từ HV vốn chỉ việc chung của quốc gia/ làm việc chung cho quốc gia; công việc của Nhà nước hoặc của đoàn thể, không đồng nghĩa với từ thuần Việt “làm việc” là việc cụ thể phải bỏ công sức ra để làm. Không phải bất cứ vị doanh nhân, chị nhà buôn nào đi làm việc cũng đều là đi công tác mà có khi họ chỉ đi làm việc riêng của họ thôi, nên khi viết: Bác nông dân đi công tác; Doanh nhân đi công tác... cần phải cân nhắc cho chính xác.
Tang thương → tang tóc
Từ HV “tang thương” vốn là dạng nói tắt của thành ngữ cũ “Tang điền thương hải” (ruộng dâu biến thành biển xanh), chỉ sự thay đổi ở đời. Dù gần đây có thêm nghĩa phái sinh: Tình trạng tiều tụy, khổ sở đến mức gợi sự đau xót, thương tâm, nhưng cũng không nên lạm dụng thay thế hẳn cho từ tang tóc (Ở trong cảnh đau buồn vì có người thân chết), với ngộ nhận cảnh tang thương là cảnh nhà có tang, rất đáng thương, nên hễ khi có người chết thì luôn viết “tang thương”!
*
* *
Từ HV vốn có nguồn gốc từ tiếng Hán, qua quá trình giao thoa ngôn ngữ được đồng hóa khi du nhập vào tiếng Việt, đã bổ sung, làm phong phú thêm từ vựng nước nhà. Và báo chí có vai trò quan trọng trong việc sử dụng chuẩn xác từ HV nhằm góp phần định hướng, cổ xúy cho việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
